Những ngày cuối tháng Tư lịch sử, âm vang của cuộc chiến thần thánh của dân tộc vẫn đang vang vọng trong từng tâm hồn mỗi người con đất Việt, chúng tôi – đoàn đại biểu của Quỹ “Mãi mãi tuổi hai mươi” và Hội cựu chiến binh Tăng thiết giáp cùng thực hiện cuộc hành trình “Về lại chiến trường xưa”.
“40 năm sau chiến tranh
Những người lính không còn trẻ nữa
Quá khứ một thời máu lửa
Ký ức Trường Sơn réo gọi các anh về”
Những ngày cuối tháng Tư lịch sử, âm vang của cuộc chiến thần thánh của dân tộc vẫn đang vang vọng trong từng tâm hồn mỗi người con đất Việt, chúng tôi – đoàn đại biểu của Quỹ “Mãi mãi tuổi hai mươi” và Hội cựu chiến binh Tăng thiết giáp cùng thực hiện cuộc hành trình “Về lại chiến trường xưa”.
Đường mòn ngày xưa nay mờ dấu tích…
Sáng 30 – 4 – 2009, trên chuyến xe về lại con đường Trường Sơn huyền thoại là thế hệ những Cựu chiến binh - những người đã đi qua chiến tranh, đã một thời sống dưới màu áo lính đi qua những năm tháng đạn xối bom gào và thế hệ trẻ – lớp sinh viên Hà Thành theo cha anh về lại chiến trường xưa để hiểu hơn một thời quá khứ hào hùng của dân tộc cùng tìm về tri ân với những người chiến sĩ, đồng đội đã hi sinh xương máu cho độc lập của Tổ quốc.

Cầu ĐăkRong trên đường Trường Sơn nay đã to đẹp hơn...
Rừng Trường Sơn từng hứng chịu những trận bom dội cháy đỏ cả những gốc cây nay đã xanh tươi một màu hi vọng. Đây Km số 0 – đường Hồ Chí Minh, đánh dấu mốc đầu tiên của đoạn đường Đông Trường Sơn ở Tân Kỳ – Lộc Ninh, đây Khe Gát, Lèn Đá, đây Phà Xuân Sơn, dòng ĐăkRong hùng vĩ thơ mộng, kia đỉnh Tây Trường Sơn bên núi bên vực sâu hun hút, nhiều Địa danh quen thuộc theo dọc Đường Trường Sơn hiện ra: Dốc Cun, Phà Cẩm Thủy, Đèo Đá Đẽo, Phà Long Đại, Khe Ho, Khe Cạn, Ngầm Bùng, Bến Quan, Bến Tiến,… tất cả hiện lên trong tâm trí của những người lính. Những khuôn mặt đã đi cùng năm tháng cùng cười, cùng khóc hạnh phúc bên nhau, cùng tìm lại một thời đã qua đi trong ký ức mỗi người.
Xe qua Trường Sơn, qua những con dốc đổ đèo, những khúc cua tay áo rợn người, có những lúc chiếc xe như bò từng mét giữa núi rừng trùng điệp, mây mù bao phủ, bên núi bên vực. Có những lúc xe leo lên đỉnh núi chúng tôi cảm giác như tai mình ù đặc, ngực như bị đè nặng, khó thở. Thế mà các cựu chiến binh cười và trên xe vẫn rộn ràng tiếng hát.
“Chúng tôi trở lại chiến trường với tâm thế xác định không phải là một chuyến đi du lịch bình thường mà là một chuyến đi mang ý nghĩa tâm linh. Bước lên đường Trường Sơn hôm nay có khó khăn, có gian khổ nhưng chưa là gì so với ngày trước. Đường Trường Sơn giờ là đường rải nhựa, thông thoáng, xe chạy ngon lành, còn đường Trường Sơn năm xưa chỉ là những lối đi mòn, bộ đội phải vạch rừng, vạch lá để tìm đường đi giữa mưa bom bão đạn c ủa kẻ thù.
Có những trận giặc thả bom đường Trường Sơn tan nát. Bom vừa dứt, các chiến sĩ công binh đã có mặt, rà phá bom nổ chậm, san lấp mặt đường, bảo đảm giao thông thông suốt. Địch đánh, ta sửa ta đi. Địch lại đánh ta sửa ta đi, và cứ thế ta giữ vững con đường ra tiền tuyến. Đường ngày càng dài thêm, giặc Mỹ ngày càng bắn phá ác liệt, 1 mét đường có lúc hứng chịu cùng 1 lúc sức công phá 5 quả bom. 16 năm có hơn 4 triệu tấn bom đạn của Mỹ trút xuống đường Trường Sơn. Từ giữa năm 1968, Mỹ leo thang đánh phá dữ dội những đoạn đường huyết mạch Trường Sơn. Con đường giao thông quan trọng từ dốc Cổng Trời - trọng điểm 050 ở Quảng Bình là nơi hứng chịu nhiều bom đạn nhất vì là điểm tập kết giao nhận hàng hóa, thương binh nối hai tuyến đường Trường Sơn Tây và Trường Sơn Đông, sang Cha Lo trở thành “con đường tử thần”, một “túi bom” khổng lồ, ác liệt nhất mà không quân Mỹ bắn phá hằng ngày nhằm ngăn chặn con đường vận tải tiếp viện từ hậu phương ra tiền tuyến. Những năm tháng đó cực kỳ gian khổ, cái sống, cái chết luôn cận kề, nhiều đồng đội của tôi đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Khó khăn mà chúng ta vượt qua hôm nay phải nhân lên hàng trăm, hàng nghìn lần với những gì mà các chiến sĩ năm xưa đã phải vượt qua trên đường ra trận”, Đại Tá An Ngọc Phong, Nguyên Chính trị viên tiểu đoàn 11, Trung đoàn 206, Quân khu 4 tâm sự.
Chiến tranh đã qua đi gần 40 năm, cung đường Trường Sơn huyền thoại đã được xây dựng lại: đẹp hơn, thuận tiện hơn. Những cung đường dần mở ra trước mặt theo từng bước tiến của những chiếc xe. Đường Trường Sơn khói lửa hào hùng năm xưa nay hiện lên đẹp như những dải lụa đào vắt ngang qua sườn núi. Xe băng băng qua những khúc cua nguy hiểm, qua những nẻo đường trở lại ký ức một thời…!
Khi ký ức trở về
Trên chuyến xe chở những người Cựu chiến binh trở lại chiến trường xưa còn mang trong mình hành trang về một thời quá khứ. Trong họ là những kỷ niệm về những ngày đầu ra trận, những anh chàng binh nhì sinh viên mang nhiệt huyết cách mạng cùng với sự hào hoa lãng mạn trong chiếc ba lô hành quân ra trận. “Ngày 6 tháng 9 năm 1971, có một trung đoàn được thành lập giữa lòng Hà Nội gồm toàn sinh viên gác bút nghiên lên đường đánh Mỹ theo tiếng gọi của Tổ Quốc từ các trường: Đại học Tổng hợp, Bách Khoa, Sư phạm, Nông nghiệp, Y khoa… ngay sau đó đơn vị về Yên Sở chỉnh đốn đội ngũ rồi kéo lên Tân Yên (Hà Bắc) huấn luyện 3 tháng, bổ sung cho các binh chủng, lại vội vã huấn luyện rồi cùng kéo vào Quảng Trị kịp tham chiến trong mùa hè đỏ lửa 1972 và 81 ngày đêm Thành Cổ” (theo ghi chép của Nguyễn Thế Tường – “Khúc tráng ca Thành Cổ”).
“Cách đây hơn 30 năm, cuối năm 1972 Chính trị viên An Ngọc Phong đưa chúng tôi vào trận chiến. Đầu tháng 9 năm 1971 có một cơn “đại hồng thủy” càn quét Hà Nội, có những người chiến sĩ phải bơi qua sông để kịp ngày nhập ngũ. Có những đêm mưa dầm, giữa rừng Trường Sơn heo hút lính tăng không nấu nổi cơm ăn, nằm vặn vẹo ăn lương khô rồi tiếp tục lên đường. Trên đường hành quân, dù mưa bom bão đạn, dù cuộc sống khó khăn gian khổ nhưng bộ đội luôn được sự tin yêu, che chở của dân. Lính xe tăng còn được người dân cho vào nhà, họ còn đào hầm cho bộ đội dấu xe tăng ngay giữa vườn mà không sá chi bom đạn có thể đánh bất cứ lúc nào. Đó là những kỷ niệm không bao giờ quên”, bác Ngô Quang Năng – giám đốc quỹ “Mãi mãi tuổi Hai mươi”, nguyên cựu chiến binh xe tăng hồi tưởng lại.

Phút xúc động của Đồng chí Đặng Văn Nghị khi gặp lại đồng đội
Ngày ấy, ở nông thôn, có nơi ban tuyển quân đã phải “vay tới 2 tuổi”, nghĩa là vét cả lính 16 tuổi trong khi 2 năm nữa họ mới đến lượt tòng quân. “Tôi tham gia chiến dịch Quảng Tri từ những ngày đầu - ngày 30 tháng 3 năm 1972 đến lúc ký Hiệp định Paris. Đơn vị của chúng tôi là đơn vị vùng ven bảo vệ cho bộ binh và các đơn vị vận tải vùng Lang Vang, Tích Tường – đơn vị pháo phòng không trung đoàn 230. Cuộc chiến khốc liệt, pháo ở hạm đội 7 ngoài biển liên tục “câu” vào, B52 rơi trên đỉnh đầu, trong Thành Cổ pháo bắn ra như mưa. Hố bom chồng hố bom, mảnh đạn, lửa khói nghi ngút chiến trường. Trong Thành Cố, những người lính cùng sinh hoạt trong một hầm chữ A nho nhỏ, chiếc khăn mặt, miếng lương khô từng ngụm nước cùng nhau san sẻ. Trung bình mỗi chiến sĩ Thành Cổ hứng chịu khoảng 100 quả bom, 200 quả đạn pháo, hỏa lực của pháo binh giặc và B52 ngày đêm cày xới.
Có những ngày đánh trận vui như hội, vừa vào lính đã bắt được tù binh. Hồi cuối năm 1972, ta đang có lợi trên bàn đàm phán, cán cân lực lượng đang nghiêng về phía ta nên giặc hốt hoảng. Chúng tôi là lính pháo, có hôm đi truy giặc, bắt được một hầm giữa rừng, trong hầm có 10 tên lính ngụy xung quanh vũ khí đạn dược sắp đầy thế mà chúng quỳ xuống xin bộ đội cho hàng! Có tên còn vừa quỳ vừa lạy! Tù binh nhiều bộ đội ta “ôm” không xuể, đành hướng dẫn họ đường ra Bắc rồi chờ lệnh chỉ huy ngoài đó thả về”, bác Nguyễn Thế Hiên, nguyên cựu chiến binh Trung đoàn 230 kể lại.

Các cựu chiến binh cùng hát vang bài ca đi cùng năm tháng
Hào khí là thế nhưng không thể không kể đến những khó khăn vất vả và cả những hi sinh mà chiến sĩ ta đã phải trải qua. Có những nỗi đau thầm lặng vẫn đau đáu trong lòng người lính năm xưa. Câu chuyện của các cựu chiến binh về những vết thương hằn sâu trong ký ức họ làm ám ảnh cả tâm trạng của những người tham gia hành trình. “Có người lính bị thương, bị sốt rét nằm điều trị. Khi nỗi đau thân xác dịu xuống thì bên tai họ vang lên tiếng trẻ con khóc, những tình cảm của con người trỗi dậy. Là những chiến sĩ quả cảm anh dũng nhưng trước tình cảnh như vậy không ít người chảy nước mắt. Lúc tỉnh họ còn nhìn thấy các cô y tá cấp cứu cho mình và đồng đội, nhưng sau một loạt B52 thì chính các cô y tá ấy đã ra đi. Nằm dưới hầm nghe tiếng giật đùng đùng của B52 chúng tôi biết chắc là giặc dội bom ở gần mình. Sau 3 tiếng giật vẫn thấy thở là biết mình đang còn sống. Nhưng đau xót là những người vừa cứu mình thì trong tích tắc họ đã hi sinh!
Khoảng năm 1968 – 1969 chúng tôi trên đường hành quân qua đoạn Minh Hóa ( ngang Đèo Đá Đẽo, Quảng Bình). Khi vào nghỉ trong một gia đình có 2 ông bà già có một người con trai đang vào chiến trường miền Nam và cô con dâu đang có thai sắp đến ngày chuyển dạ. Ở lại gia đình này mấy hôm thì chúng tôi phát hiện ra ruột tượng đựng gạo ngày một vơi đi mà không biết lý do. Khi đề cập vấn đề với gia đình thì đột nhiên thấy cô con dâu biến mất. Khi tìm được thì thấy người phụ nữ đang ngồi trong hang đá, xung quanh là mấy bơ gạo lấy được. Cô khóc vì tủi hổ: chồng em đi bộ đội không biết sống chết ra sao, đây là giọt máu đầu tiên của anh ấy. Vì muốn có thêm sữa cho con bú, có gạo nấu cháo cho con nên em mới trót dại…” Đại tá Hoàng Sâm tâm sự.
Hay có câu chuyện về những cô thanh niên xung phong đi vào rừng kiếm rau cho bộ đội thì bị Thổ phỉ bắt nhốt vào hang đá để làm vợ chúng. Khi bộ đội tìm thấy thì các cô đã sinh con đẻ cái, không nỡ rời xa con nên tình nguyện ở lại với hang sâu, với núi rừng, vùi lấp đi cuộc đời xuân sắc chốn rừng thiêng nước độc.
Là nỗi đau tiễn đồng đội ra đi trong khói lửa chiến tranh. Những người lính đã nằm xuống đất mẹ có người không được yên nghỉ. Nấm đất có các anh bị bom đạn cày xới. “Có những hôm chúng tôi phải tự tay chôn đồng đội của mình tới chục lần. Họ hi sinh mà không được an nghỉ. Bom đạn cày xới nấm mồ mới chôn lên, lại lấp xuống, lại bị cày xới…” Cựu chiến binh Nguyễn Chí Tuệ – nay là giảng viên ĐHKTQD nghẹn ngào.
Họ chính là những người con ưu tú đã hi sinh thân mình cho Tổ quốc thân yêu. “Các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống mãi mãi như những vì tinh tú soi sáng đất nước ta. Qua cát bụi của lịch sử, họ chỉ dẫn cho chúng ta cho đời sau tìm thấy đường đi của nhân loại. Sống vĩ đại, chết vẻ vang, dù chỉ sống ngắn ngủi trong 20 năm mà rực lửa chiến công còn hơn sống 100 năm mà vô vị. Đó là lời khuyên nhủ của hàng ngàn người con ưu tú đã dùng máu và tính mạng mình viết lên” (Ngụy Nguyên – Trung Quốc).
Đồng đội ơi…
Đi qua những mảnh đất anh dũng kiên cường trong cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc, qua những nẻo đường Trường Sơn trùng điệp, nơi những người con đất Việt đã sống, chiến đấu và hi sinh vẻ vang, chúng tôi muốn giành những phút tĩnh lặng nhất để tri ân, tưởng nhớ tới đồng đội, tới các Liệt sĩ đã hi sinh anh dũng cho độc lập tự do của Tổ quốc.

Tri ân cùng Đồng đội đã hi sinh anh dũng...
Thắp hương trước các anh hùng Liệt sĩ – thanh niên xung phong đã hi sinh trong trận đánh ngày 31 tháng 10 năm 1968 tại Truông Bồn, Đô Lương. Đứng trước đài tưởng niệm, trước nấm mồ của 11 cô gái thanh niên xung phong đã hi sinh khi còn rất trẻ, mọi người tham gia đoàn đều hết sức xúc động trước những hi sinh lớn lao của các anh hùng liệt sĩ để bảo vệ tuyến đường huyết mạch của dân tộc – đoạn qua Truông Bồn, tuyến đường độc đạo, chi viện từ miền Bắc và miền Nam.
Tại đây, có một sự vô tình gặp gỡ rất xúc động: Đồng chí Đặng Văn Nghị – từng là 1 trong 3 Y tá viên của đại đội 3 hiện đang sinh sống ở Truông Bồn, sau phút ngờ ngợ đồng đội cũ, bác Nghị đã rất xúc động, ôm chầm lấy đồng chí Nguyễn Văn Mão – thành viên trong đoàn và khóc nức nở: “Thủ trưởng, thủ trưởng ko nhớ em nữa à? Em Nghị, y tá đây nì!” Những giọt nước mắt lăn tròn trên khuôn mặt nhăn nheo theo năm tháng của những người lính không còn trẻ nữa. Đ/c Đặng Văn Nghị đã nhận ra các đồng đội của mình trong đoàn: Đồng chí Phong – Chính trị viên đại đội, đồng chí Ước, … những người lính đã in dấu trong tâm hồn người cựu binh năm xưa về ký ức chiến tranh.
Cuộc chiến đã qua đi, những người lính đã trở về với cuộc sống thường nhật, với lẽ mưu sinh, nhưng trong tâm trí họ chưa bao giờ nguôi ngoai nỗi nhớ đồng đội, nhất là những người đã hi sinh, trở về với đất mẹ. Những người con ra trường là đi thẳng chiến trường. Lao vào chiến trường không chỉ là nghĩa vụ mà còn là niềm ao ước, là vinh dự mà thế hệ các anh, các chị đã làm rực sáng trang sử hào hùng của dân tộc. Các anh hùng đã ngã xuống, về cõi linh thiêng của đất mẹ Việt Nam, máu của họ đổ xuống hòa cùng dòng máu của bao anh hùng Liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu để mang lại màu xanh và sự yên bình hôm nay của Tổ Quốc.
Đến với Nghĩa trang Thành Cổ, Nghĩa trang Đường 9, nghĩa trang Trường Sơn, mỗi người trong chúng tôi mang một niềm cảm xúc khó tả. Thắp nén hương lên phần mộ của các anh, cố nén trong lòng niềm xúc động nghẹn ngào khi gọi tên đồng đội, những người chiến sĩ năm xưa cùng nhau ôn lại kỷ niệm hào hùng, cùng nhau sống lại một thời khói lửa...
Lan Anh